Chủ thể đặc biệt của tội phạm là gì ? Cho ví dụ ?

Cập nhật ngày 03/12/2022 bởi mychi

Bài viết Chủ thể đặc biệt của tội phạm là gì ? Cho ví dụ ? thuộc chủ đề về Wiki How thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng HuongLiYa tìm hiểu Chủ thể đặc biệt của tội phạm là gì ? Cho ví dụ ? trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem nội dung : “Chủ thể đặc biệt của tội phạm là gì ? Cho ví dụ ?”

Đánh giá về Chủ thể đặc biệt của tội phạm là gì ? Cho ví dụ ?


Xem nhanh

Mục lục bài viết

  • 1. Ví dụ về chủ thể đặc biệt của tội phạm ?
  • 2.Khái niệm chủ thể đặc biệt của tội phạm ?
  • 3. Các dấu hiệu của chủ sở hữu có thể đặc biệt của tội phạm
  • 4. hệ lụy của tội phạm
  • 5.Mặt chủ quan của tội phạm

1. Ví dụ về chủ thể đặc biệt của tội phạm ?

một số cấu thành tội phạm phản ánh yêu cầu phải có thêm dấu hiệu đặc biệt khác vì chỉ chủ sở hữu có thể có dấu hiệu này mới có khả năng thực hiện được hành vi buộc tội mà cấu thành phạm tội phản ánh.

Chủ thể đòi hỏi phải có thêm dấu hiệu đặc biệt như vậy được gọi là chủ thể đặc biệt.

Đỗ quy định chủ thể đặc biệt không phải là để truy cứu trách nhiệm hình sự người có đặc điểm xác định rõ nhất về nhân thân mà vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi nguy hiểm cho xã hội và hành vi đó chỉ could be done by the person has the most fixed point about the kernel.

Theo luật hình sự Việt Nam, những đặc điểm nhất định đó có thể thuộc những loại sau:

– Các đặc điểm liên quan đến cấp bậc, quyền hạn.

Ví dụ: Tội tham ô (Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015), tội nhận hối lộ (Điều 354 Bliên lạcS)…;

– Các đặc điểm liên quan đến nghề nghiệp, tính chất công việc.

Ví dụ: Tội vi phạm quy định điều khiển tàu bay (Điều 277 Bộ luật hình sự năm 2015), tội điều khiển phương thuận tiện hàng hải vi phạm các quy định về hàng hải của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam (Điều 284 Bộ luật hình sự năm 2015)…;

– Các đậc điểm liên quan đến nghĩa vụ phải thực hiện.

Ví dụ: Tội trốn ttánh nghĩa vụ quân sự (Điều 332 Bộ luật hình sự năm 2015); tội không chấp hành án (Điều 380 Bộ luật hình sự năm 2015)…;

– Đặc điểm về quan hệ gia đình, họ hàng.

Ví dụ: Tội loạn luân (Điều 184 Bộ luật hình sự năm 2015), tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 186 Bộ luật hình sự năm 2015) V.V..

Ngoài các trường họp trên đây, Bộ luật hình sự năm 2015 còn quy định một số dấu hiệu khác cho chủ thể của tội phạm ở một vài tội phạm. Trong đó có dấu hiệu được quy định nhằm thu hẹp phạm vi phải chịu TNHS về hành vi phạm tội.

Mọi Người Xem :   Quy trình xây dựng khóa học E-Learning - Nguồn GCCI

Ví dụ: Dấu hiệu “đủ 18 tuổi trở lên” ở tội dâm ô với người dưới 16 tuổi (Điều 146 Bộ luật hình sự năm 2015). Trường hợp này cũng được coi là không trái với nguyên tắc chung khi quy định dấu hiệu đặc biệt của chủ thể.

Trường hợp quy định thêm dấu hiệu đặc biệt của chủ thể mà có ý kiến khác nhau là trường hợp quy định dấu hiệu đặc biệt của chủ thể để thay thế cho dấu hiệu hệ lụy thiệt hại.

Ví dụ: Dấu hiệu “đã bị xừ phạt hành chính” ở tội trộm cắp của cải/tài sản (Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015) (dấu hiệu này thay cho dấu hiệu “tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng). Hiện có ý kiến cho rằng, cần phải xem xét lại trường hợp này vì quy định như vậy là không phù họp với nguyên tắc chung.

Những đặc điểm nêu trên, khi đã được quy định trong cấu thành tội phạm thì trở thành dấu hiệu yêu cầu và có ý nghĩa trong việc định tội danh. Nhưng cần chú ý rằng trong những vụ đồng phạm, những đặc điểm đó chỉ đòi hỏi ở những người thực hiện tội phạm (người thực hành). Những người đồng phạm khác (tổ chức, xúi giục, giúp sức) không đòi hỏi phải có những dấu hiệu đặc biệt của chủ thể đặc biệt. Ví dụ: Người không có chức vụ, quyền hạn có khả năng xúi giục người có cấp bậc, quyền hạn liên quan đến của cải/tài sản tham ô của cải/tài sản…

2.Khái niệm chủ thể đặc biệt của tội phạm ?

Chủ thể của tội phạm thông thường đòi hỏi phải đáp ứng dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự. Với những tội phạm cụ thể cần phải có thêm những dấu hiệu đặc trưng khác mà không có nó thì người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không thể trở thành là chủ thể của tội phạm đó được. Những chủ thể đòi hỏi dấu hiệu đặc biệt như vậy gọi là chủ thể đặc biệt. Như vậy, việc quy định chủ thể đặc biệt không nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự người có đặc điểm nhất định về nhân thân mà vẫn nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi nguy hiểm cho xã hội và hành vi đó chỉ có thể được thực hiện bởi người có những đặc điểm nhất định.

3. Các dấu hiệu của chủ thể đặc biệt của tội phạm

Các dấu hiệu liên quan đến cấp bậc, quyền hạn: Ví dụ, tội tham ô tài sản đòi hỏi dấu hiệu đặc biệt của chủ thể phải là người có cấp bậc, quyền hạn trực tiếp quản lý tài sản.

Các dấu hiệu liên quan đến nghề nghiệp, công việc: Ví dụ, tội cung cấp tài liệu sai sự thật, tội khai báo gian dối yêu cầu chủ thể phải là người giám định, người phiên dịch hoặc người làm chứng.

Các dấu hiệu liên quan đến nghĩa vụ: Ví dụ, tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự yêu cầu chủ thể phải là người đang ở tuổi mà theo quy định của pháp luật phải thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Các dấu hiệu liên quan đến tuổi: Ví dụ, tội giao cấu với trẻ em đòi hỏi chủ thể phải là người đã thành niên (đủ 18 tuổi).

Các dấu hiệu liên quan đến quan hệ, họ hàng: Ví dụ, tội ngược đãi nghiêm trọng hoặc hành hạ cha mẹ, vợ chồng, con cái đòi hỏi chủ thể phải là cha mẹ, vợ chồng, con cái.

Mọi Người Xem :   Chơi hụi là gì? Quy định của pháp luật về chơi hụi, họ, phường?

Các dấu hiệu liên quan đến quốc tịch: Ví dụ, tội phản bội tổ quốc, chủ thể ngoài có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định thì còn phải là công dân nước Việt Nam.

Các dấu hiệu khác: Ví dụ, tội giết con mới đẻ đòi hỏi chủ thể phải là bà mẹ mới sinh (từ khi sinh con đến ngày thứ 7).

Như vậy, các đặc điểm của chủ thể đặc biệt là bắt buộc và có ý nghĩa quyết liệt trong việc định tội. mặc khác, đối với các vụ phạm tội do đồng phạm, các dấu hiệu của chủ thể đặc biệt chỉ đòi hỏi đối với người thực hành, những người khác không cần các dấu hiệu đặc biệt của tội phạm đó.

4. hệ lụy của tội phạm

– hậu quả tác hại của tội phạm là một trong các dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm, là thiệt hại do hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra cho quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ, gồm thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần.

  • Thiệt hại vật chất là những thiệt hại đo đếm, xác định được mức độ nhất định như chết người, gây thương tích với tỷ lệ % tổn hại sức khỏe, thiệt hại tài sản được quy ra bằng tiền v.v…
  • Thiệt hại tinh thần là những thiệt hại khác mà không xác định được lượng mức độ thiệt hại như tội vu khống, tội làm nhục người khác, tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội v.v. hệ lụy tác hại có ý nghĩa quan trọng để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm. hậu quả tác hại càng lớn thì mức độ nguy hiểm của tội phạm càng cao.

hậu quả tác hại của tội phạm có ý nghĩa xác định giai đoạn hoàn thành của tội phạm. Tội có cấu thành vật chất được coi là hoàn thành khi hành vi nguy hiểm đã gây ra ra hệ lụy tác hại. Tội có cấu thành hình thức được coi là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội theo quy định của điều luật cụ thể trong Bộ luật Hình sự.Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hệ lụy của tội phạm là mối quan hệ giữa các hiện tượngtrong đó một hiện tượng được gọi là nguyên nhân (là hành vi khách quan) làm sinh ra một hiện tượng khác là kết quả (là hậu quả của tội phạm).

5.Mặt chủ quan của tội phạm

Các cách thức lỗi của tội phạm;

– Lỗi cố ý trực tiếp

Lỗi cố ý gián tiếp được quy định tại Khoản 2, Điều 10 Bliên lạcS 2015 theo đó: Lỗi cố ý trực tiếp là lỗi của một người khi thực hiện hành vi phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.

Với khái niệm trên cho thấy rằng lỗi cố ý trực tiếp được thể hiện như sau:

  • Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của hành vi và nhận thức rõ hậu quả tất yếu xẩy ra hoặc có thể xảy ra.
  • Về ý chí: Người phạm tội nhu cầu hậu quả xảy ra.

– Lỗi cố ý gián tiếp

Lỗi cố ý gián tiếp được quy định tại Khoản 2, Điều 10 BLHS 2015 theo đó: Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hệ lụy của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hệ lụy xảy ra.

Mọi Người Xem :   Đất Q là gì và mục đích sử dụng đất Q người dân cần biết 2022!

Với khái niệm trên cho thấy rằng lỗi cố ý gián tiếp được thể hiện như sau:

  • Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của hành vi và nhận thức rõ hệ lụy có thể xảy ra.
  • Về ý chí: Người phạm tội không mong muốn hệ lụy xảy ra nhưng bỏ mặc không quan tâm đến hệ lụy, hậu quả xảy ra như thế nào cũng chấp nhận.

– Lỗi vô ý vì quá tự tin

Lỗi vô ý vì quá tự tin được quy định tại Khoản 1, Điều 11 BLHS 2015, theo đó: Lỗi vô ý vì quá tự tin là lỗi của người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

Với khái niệm trên cho thấy rằng lỗi vô ý vì quá tự tin được thể hiện như sau:

  • Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của hành vi và nhận thức rõ hậu quả có khả năng xảy ra.
  • Về ý chí: Người phạm tội loại trừ khả năng hậu quả xảy ra.

– Lỗi vô ý do cẩu thả

  • Về lý trí: Người phạm tội trong lỗi vô ý do cẩu thả do cẩu thả nên không thấy trước hậu quả của hành vi nhưng trong điều kiện phải thấy trước và có thể thấy được hậu quả đó.Như vậy, việc người phạm tội không thấy trước hệ lụy của hành vi là do nguyên nhân chủ quan từ phía người phạm tội.
  • Về ý chí: Trong lỗi vô ý do cẩu thả người phạm tội không có thể điều khiển được hành vi của mình (tức là người phạm tội không có ý chí). Vì về lý trí người phạm tội không nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi và cũng không nhận thức được hậu quả của hành vi đó. Mà giữa lý trí và ý trí trong quan hệ tâm lý của người phạm tội là 2 yếu tố có mối quan hệ biện chứng với nhéu. Trong đó, lý trí có trước và làm tiền đề, ý chí phụ thuộc vào ý chí. Nếu khi hành động con người không có lý trí (không có khả năng nhận thức) thì không bao giờ có ý chí (không thể có thể điều khiển hành vi và hậu quả được).Muốn xác định người phạm tội có khả năng nhận thức được hoặc buộc phải nhận thức được hậu quả đó hay không? phải đặt trong từng hoàn cảnh chi tiết mới có thể đánh giá và kết luận được.

Luật Minh Khuê (biên tập)



Các câu hỏi về chủ thể thường là gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê chủ thể thường là gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé <3 Bài viết chủ thể thường là gì ! được mình và team xem xét cũng như tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết chủ thể thường là gì Cực hay ! Hay thì hãy ủng hộ team Like hoặc share. Nếu thấy bài viết chủ thể thường là gì rât hay ! chưa hay, hoặc cần bổ sung. Bạn góp ý giúp mình nhé!!

Các Hình Ảnh Về chủ thể thường là gì


Các hình ảnh về chủ thể thường là gì đang được chúng mình Cập nhập. Nếu các bạn mong muốn đóng góp, Hãy gửi mail về hộp thư [email protected] Nếu có bất kỳ đóng góp hay liên hệ. Hãy Mail ngay cho tụi mình nhé

Tra cứu thêm dữ liệu, về chủ thể thường là gì tại WikiPedia

Bạn hãy tham khảo thêm nội dung về chủ thể thường là gì từ web Wikipedia.◄ Tham Gia Cộng Đồng Tại

???? Nguồn Tin tại: https://huongliya.vn/

???? Xem Thêm Chủ Đề Liên Quan tại : https://huongliya.vn/hoi-dap/

Related Posts

About The Author

Add Comment