Họ và tên của 54 dân tộc Việt Nam (Nguyễn Khôi)

Bài viết Họ và tên của 54 dân tộc Việt Nam (Nguyễn Khôi) thuộc chủ đề về Giải Đáp thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng Hường Liya tìm hiểu Họ và tên của 54 dân tộc Việt Nam (Nguyễn Khôi) trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem nội dung về : “Họ và tên của 54 dân tộc Việt Nam (Nguyễn Khôi)”

– Dân Tộc Thái:
image
Dân tộc Thái có trên 1,32 triệu người, cư trú ở các tỉnh Tây Bắc, Hoà Bình, Thanh Hoá và Nghệ An.
Người Thái có nhiều họ khác nhau. Họ Lò không ăn thịt chim Táng Lò ( vật tổ). Họ Quang kiêng ăn thịt hổ…
Đồng bào Thái thờ cúng tổ tiên, trời, đất, cúng bản Mường, không theo tôn giáo nào.
Văn hoá nghệ thuật Thái rất độc đáo rạng rỡ với nghệ thuật ” Múa Xoè”, ” Múa Nón” , Khèn Thái, Pí Pặp, Quăm Khắp (Hát).

Các tác phẩm truyện thơ nổi tiếng như “Sống Trụ Son Sao ” (Tiếng dặn người yêu – như Truyện Kiều) mà Nguyễn Khôi đã chuyển dịch rất thành công sang thơ Song thất lục bát, tái bản nhiều lần ), Khun Lua – Nàng ủa, Em bé – Nàng Hổ ( như Tấm Cám của người Kinh.

Lối hát giao duyên ” Hạn Khuống” (như Quan họ Bắc Ninh), rất hấp dẫn.
Nhìn chung người Thái là dân tộc phát triển trồng lúa nước , dệt thổ cẩm, làm được súng săn…
Thường được goi là “người Kinh” ở miền Núi. Có rất nhiều nhà hoạt động chính trị, tướng tá , văn nghệ sỹ khá nổi tiếng.
Người Thái có các họ: Bạc, Bế, Bua, Bun, Cà, cầm, Chẩu, Chiêu, Đèo, Hoàng, Khằm, Leo, Lỡo, Lềm, Lý, Lò, Lô, La, Lộc, Lự, Lường, Mang, Mè, Nam, Nông, Ngần, Ngu, Nho, Nhọt, Panh, Pha, Phia, Quàng, Sầm, Tụ, Tày, Tao, Tạo, Tòng, Vang, Vì, , Sa, Xin, .
12 họ gốc là Lò, Lường, Quàng, Tòng, Cà, Lỡo, Mè, Lù, Lềm, Ngần, Nông.
Người Thái có một số dòng họ quý tộc ( thường là các họ lớn ) tuỳ theo từng nơi đó là Cầm, Bạc, Xa, Đèo, Hà, Sầm, Lò…
Các tên khác của một số họ :
Họ Lò còn gọi là Lô, La, sau còn đổi là Cầm, Bạc, Điêu (Đèo), Tao (Đào), Hoàng, Lò Cầm
(Lò Vàng), Lò Luông (Lò Lớn).
Họ Lường còn gọi là họ Lương
Họ Quàng còn gọi là họ Hoàng, Vàng.
Cà còn gọi là Sa, Hà, Mào.
Vi còn gọi là Vi, Sa.
Lêm còn gọi là Lâm, Lim.
Ngành Thái đen còn có các họ Cầm , Bạc thường hay giữ các chức vị Chảu Mường .
Ngành Thái trắng thường là các họ Đèo Lò làm Chảu Mường
Các tên thường gặp, ví dụ như :
Lò Văn Muôn (vui)
Lò Văn ứt (đói)
Hoàng Nó (vua măng).
Xưng hô hàng ngày của người Thái thường không gọi tên tục của nhau Thưòng là hai ngưôi “Cu-mưng (như ủa- nỉ của Tàu, Toa- moa của Pháp, hiểu đơn giản như Tao-Mày – tôi- anh (chị).
Thường gọi “dựa” con: Đàn ông là ải nọ…, ải kia…, người tôn trọng nhất gọi là “ải ộ”, anh là “ải luông”, bác là “ải lung” rồi “ải thẩu”; đàn bà là Êm (ếm) nọ…, Êm kia, già nhất là Êm thẩu.
Các vị chức sắc xưa thì gọi là Tạo nọ, Tạo kia hay Phìa nọ, Phìa kia (con cháu những người này cũng được tôn trọng gọi là Tạo con…, Nàng… già là bà Nàng…)
Sau năm 1945 bà con dân tộc được đổi tên mới, đặt tên không theo truyền thống mà phù hợp với đời sống văn minh hiện đại. Ví dụ nhà văn nhà thơ lấy bút danh như Tòng ín là Ban Pún (Hoa ban nở).
Dân tộc Thái có Huyền thoại về dòng Họ: Sau nạn hồng thuỷ, chỉ còn sống sót một cặp vợ chồng. Người vợ có một thỏi đồng liền đem ra nấu và đúc thành dụng cụ. Quá trình đúc đồng được chia làm mấy giai đoạn như: lúc đầu làm đồng nguyên, sau nấu gọi là lô, muốn tăng sức nóng thì phải quạt, rồi đảo quấy đều, sau đó thành nước loãng, đem luyện lại, tô luyện thành công cụ rắn chắc.
Vì vậy khi sinh con, họ đặt cho con đầu lòng mang họ Tông (đồng), con thứ hai là Ló nay gọi là Lò (lô), con thứ ba họ Ví (quạt), con thứ tư họ Quá (quàng), con thứ năm họ Đèo (đồng thành nước), con thứ sáu họ Liếng (đã luyện) nay gọi chệch là Lường, con thứ bày họ Cả (tôi luyên rắn thành công cụ), nay gọi là Cà.
Quá trình phân hoá giàu nghèo nên các họ trên đều có ngày giỗ riêng.
Đến nay tên đệm Văn cho Nam và Thị cho Nữ khá phổ biến như người Kinh.
Theo nghiên cứu thì nét đắc sắc văn hoá dùng họ và đặt tên có thể thấy ở Thanh Hoá, Nghệ An và Lai Châu.
Người Thái Trắng ở Lai Châu rất chú trọng lễ đặt tên cho con. Đồng bào cho rằng: Trẻ con mới sinh do vía yếu, không muốn người lạ lên nhà người ta gài vào đầu cầu thang một cành lá xanh và giắt tấm phên đan mắt cáo (Ta Leo). Đến ngày trẻ đầy tháng (Hết Hoóng) làm lễ cúng đầy tháng và cũng là lúc đặt tên cho trẻ. Cách đặt tên không trùng với tên gọi ông bà họ hàng nội ngoại là được.
Ngườì Thái Nghệ an do Lê Thái Tổ cho di từ Thuận Châu vào Miền Tây Nghệ An.
Người Thái ở Thanh Hoá có câu tục ngữ: “Người có họ, cây có vườn (con mi họ, co mi xuân). Người Thái gọi là “Chao” có nghĩa là nòi giống.
Tại Tây Bắc họ Lường làm thày mo, họ Lò làm Tạo, nhưng ở Thanh Hoá thì họ Hà làm Tạo.
Người Thái theo phụ quyền (huyết thống cha), ở Việt nam người Thái mang cả tên họ gốc và tên phiên âm sang tiếng Việt, ví dụ Chao Lộc là họ Lục. Đó cũng là nét văn hoá Thái trong cộng đồng 54 dân tộc Việt nam.
– Dân Tộc Êđê:
image
Có trên 70 triệu người, chiếm 86 % dân số cả nước, người Tày-Thái goi người Kinh là “Cần Keo, côn Keo” (Keo-Giao…). Người Giao Chỉ khác người Hán ở chỗ tầm vóc thấp nhỏ hơn, lăn lẳn thân mình (gắm) chứ không to béo.
Họ Và tên: theo Sử sách thì người Kinh đã có Họ và Tên từ Thế kỷ thứ 2 trước Tây lịch.
Đó là các nhân vật lịch sử như An Dương Vương-Thục Phán, Cao Lỗ, Đào Nồi, Lý Thân (Lý Ông Trọng)…trong 1 thời gian dài, họ tên người Kinh chỉ  có 2 tiếng, sau thêm “thị” để phân biệt giới tính như Lê Thị Đoan (mẹ của 2 Bà Trưng), Triệu Quốc Đạt (anh trại Bà Triệu). Người Kinh thướng có tên “Nôm” (Cu Tèo, cái Hĩm) lúc nhỏ gọi thông thường,và tên “Chữ” khi làm giấy tờ, đi học. Điều thú vị là : có những trường hợp người Kinh đặt tên không theo “tiêu chí” nào ? với các cái tên vô nghiã (không có trong Tự Điển) nhưĐặng Thị Tèo, Trần Văn Đuống, Trạch Văn Đoành , Nguyễn Thế Cởng…
Ngoài tên do cha mẹ đặt (giấy khai sinh), còn có họ tên do Vua ban cho như: Nguyễn Trãi – Lê Trãi (Quốc tính),  Lê Danh Phương – Lê Quí Đôn…
Họ  và tên người Kinh ngày càng có nhiều “từ” : trước 1945, trong số 448 nhân vật lịch sử chỉ có 1 người có họ tên 4 chữ là Lương Thị Minh Nguyệt ( tức Kiến Quốc Phu Nhân thời Vua Lê Thái Tổ). Việc đặt tên thường tránh tên “húy” (tên cúng cơm ông bà cha mẹ, tên kỵ húy do Triều Đình quy định.)
Người Kinh có trên 300 họ, trong đó: họ Nguyễn chiếm 38 % dân số cả nước; họ Lê 9,5 %; họ Trần 11%, họ Phạm 5 %, họ Vũ/ Võ 3,9 %, họ Ngô 1,3 % rồi đến các họ Lý, Khúc, Trịnh, họ Hồ 1,3 %,họ Đinh, họ Đặng 1 %, họ Phùng, họ Tưởng…
Họ Mạc : Xuất sắc có Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Thái tổ Mạc Đăng Dung…sau do biến loạn phải đổi ra các họ là: Bế, Hà, Nguyễn, Vũ, Lê, Hoàng, Thạch, Thái, Mai, Cát, Chử, Đặng, Đoàn, Đỗ, Phạm, Phan, Bùi, Dương, Lều, Hoa, Ma, Đào, Khương , Tô… 
₪  ₪  ₪
Cách Đặt Tênrất đa dạng:
– Giới trí thức thường đặt tên theo “chữ Hán” (bộ thủ), theo các tích trong sách  sử…
– Bình dân: theo tên nôm na bằng các “từ” thuần Việt, sau lớn lên lại đổi như : Hồ THơm – Nguyễn Huệ, Phạm Thị Gáo – Phạm Thị Loan (gáo với Lon)…
– Cách đặt tên theo âm vần: Biên (cha), – Bình, Bồng, Bưởi, Bắc (con); Mít (mẹ)- Xơ, Múi, Hột (con)…Tên cha/ con đồng âm: Đỗ Đại Đồng/Đỗ Đại Định
Nói Lái tên cha mẹ thành tên con như Tiến (cha)/ Giang (mẹ) – Giáng Tiên (con). Ghép tên cha mẹ thành tên con: Huỳnh Tâm (cha)/ Võ Thị Phượng (mẹ)-Huỳnh Tâm Phượng (con). Tên ghép theo sự liên tưởng: Hội (cha)/ Nghị (con).
Đặt theo nghề: Sĩ, Nông, Công, Thương…Đặt theo dụng cụ: Chàng, Đục, Cưa, Bào…Đặt theo tên các nước: Nga, Mỹ, Nhật, Pháp…theo địa danh lịch sử: Việt Băc, Điện Biên, Sông Lô. theo thời  cuộc: Trường, kỳ, Kháng, Chiến…
Theo can chi: Tí, Sửu…theo mùa: Xuân, Hè…theo tưởng vọng các triều đại: Đường, Tống, Minh, Thanh…Theo ước vọng: Phúc, Đức, Vinh, Hoa…
Theo danh nhân, nghệ sĩ: Quang Trung, Tố Uyên…theo thứ tự: Một, Hai, Ba, Bốn…
Theo cây cối: Lý, Đào, mộc, Lan, Huệ…theo con vật: Long, Lân, Quy, Phượng
Đặt theo lấy tên “người tình” xưa để tưởng nhớ; theo tên “kẻ thù” để chửi cho bõ tức…
Đăt kèm tên Tây cho “sang” như: Vũ Thị Nô En, Nguyễn Lê Na, Phạm Bá Rose…
Hỗn danh: Năm Sài Gòn, Tài Chó, Chí Phèo…
Các tên hiệu của Nho sĩ: Nguyễn Du, tên tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; Phan Bội Châu/ Sào Nam. Nguyễn Trãi /Ức Trai… 
Xước danh: Phù Thăng/ thằng Phu (Lục Văn Phu).
Pháp danh: Thích Trí Thủ. Đạo hiệu: Tâm Như.
Tên thánh: Phê rô Phạm Văn Tĩnh…Biệt danh: Thắng cụt, Bảy Sẹo…
Tên theo chức vị: Ngô Tổng Thống…


Nguyễn Khôi

Các câu hỏi về họ cà là dân tộc gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê họ cà là dân tộc gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé <3 Bài viết họ cà là dân tộc gì ! được mình và team xem xét cũng như tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết họ cà là dân tộc gì Cực hay ! Hay thì hãy ủng hộ team Like hoặc share. Nếu thấy bài viết họ cà là dân tộc gì rât hay ! chưa hay, hoặc cần bổ sung. Bạn góp ý giúp mình nhé!!
Mọi Người Xem :   MÔ HÌNH 3C’S TRONG CHIẾN LƯỢC MARKETING

Các Hình Ảnh Về họ cà là dân tộc gì


Các hình ảnh về họ cà là dân tộc gì đang được chúng mình Cập nhập. Nếu các bạn mong muốn đóng góp, Hãy gửi mail về hộp thư [email protected] Nếu có bất kỳ đóng góp hay liên hệ. Hãy Mail ngay cho tụi mình nhé

Tra cứu kiến thức về họ cà là dân tộc gì tại WikiPedia

Bạn có thể tham khảo thêm nội dung chi tiết về họ cà là dân tộc gì từ trang Wikipedia.◄ Tham Gia Cộng Đồng Tại

💝 Nguồn Tin tại: https://huongliya.vn/

💝 Xem Thêm Chủ Đề Liên Quan tại : https://huongliya.vn/hoi-dap/

Related Posts

About The Author

Add Comment