Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái

Cập nhật ngày 12/09/2022 bởi mychi

Bài viết Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái thuộc chủ đề về Thắc Mắt thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng HuongLiYa tìm hiểu Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem bài : “Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái”

Đánh giá về Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái


Xem nhanh
Nhận biết khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ

CHUẨN MỰC SỐ 10

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THAY ĐỔI TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

(Ban hành và công bố theo quyết định số 165/2002/QĐ-BTCngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính)

QUY ĐỊNH CHUNG

01. Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán những tác động do thay đổi tỷ giá hối đoái trong trường hợp công ty có các giao dịch bằng ngoại tệ hoặc có các vận hành ở nước ngoài. Các giao dịch bằng ngoại tệ và các báo cáo tài chính của các vận hành ở nước ngoài phải được chuyển sang đơn vị tiền tệ kế toán của Doanh nghiệp, bao gồm: Ghi nhận ban đầu và báo cáo tại ngày lập Bảng cân đối kế toán; Ghi nhận chênh lệch tỷ giá hối đoái; Chuyển đổi báo cáo tài chính của các hoạt động ở nước ngoài làm cơ sở ghi sổ kế toán, lập và trình bày báo cáo tài chính.

02. Chuẩn mực này áp dụng cho việc:

(a) Kế toán các giao dịch bằng ngoại tệ;

(b) Chuyển đổi báo cáo tài chính của hoạt động ở nước ngoài khi hợp nhất các báo cáo này vào báo cáo tài chính của công ty bằng phương pháp hợp nhất hoặc phương pháp vốn chủ sở hữu.

03. Các công ty phải dùng Đồng Việt Nam làm đơn vị tiền tệ kế toán, trừ trường hợp được phép dùng một đơn vị tiền tệ thông dụng khác.

04. Chuẩn mực này không quy định việc chuyển đổi báo cáo tài chính của một Doanh nghiệp từ đơn vị tiền tệ kế toán sang một đơn vị tiền tệ khác để tiện cho người sử dụng đã quen thuộc với đơn vị tiền tệ được chuyển đổi đó hoặc cho các mục đích tương tự.

05. Chuẩn mực này không nói đến việc trình bày các luồng tiền sinh ra từ các giao dịch bằng ngoại tệ và từ việc chuyển đổi các luồng tiền của một vận hành ở nước ngoài trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Quy định tại Chuẩn mực “Báo cáo lưu chuyển tiền tệ”).

06. Các thuật ngữ trong chuẩn mực này được hiểu như sau:

hoạt động ở nước ngoài: Là các chi nhánh, công ty con, Doanh nghiệp kết nối, công ty liên doanh, hợp tác buôn bán, vận hành kết nối kinh doanh của Doanh nghiệp lập báo cáo mà vận hành của các đơn vị này được thực hiện ở một nước khác ngoài Việt Nam.

Cơ sở ở nước ngoài: Là một hoạt động ở nước ngoài, mà các hoạt động của nó là một phần độc lập đối với Doanh nghiệp lập báo cáo.

Đơn vị tiền tệ kế toán: Là đơn vị tiền tệ được dùng chính thức trong việc ghi sổ kế toán và  lập báo cáo tài chính.

Ngoại tệ: Là đơn vị tiền tệ khác với đơn vị tiền tệ kế toán của một công ty.

Tỷ giá hối đoái: Là tỷ giá trao đổi giữa hai đơn vị tiền tệ.

Chênh lệch tỷ giá hối đoái: Là chênh lệch sinh ra từ việc trao đổi thực tế hoặc quy đổi của cùng một số lượng ngoại tệ sang đơn vị tiền tệ kế toán theo các tỷ giá hối đoái khác nhau.

Tỷ giá hối đoái cuối kỳ: Là tỷ giá hối đoái dùng tại ngày lập Bảng Cân đối kế toán.

Đầu tư thuần tại một cơ sở ở nước ngoài: Là phần vốn của Doanh nghiệp báo cáo trong tổng tài sản thuần của cơ sở nước ngoài đó.

Các khoản mục tiền tệ: Là tiền và các khoản cũng như tiền hiện có, các khoản phải thu, hoặc nợ phải trả bằng một lượng tiền cố định hoặc có thể xác định được.

Các khoản mục phi tiền tệ: Là các khoản mục không phải là các khoản mục tiền tệ.

tổng giá trị hợp lý: Là tổng giá trị tài sản có thể được trao đổi hoặc tổng giá trị một khoản nợ được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá.

NỘI DUNG CHUẨN MỰC

Các giao dịch bằng ngoại tệ

Ghi nhận ban đầu

07. Một giao dịch bằng ngoại tệ là giao dịch được xác định bằng ngoại tệ hoặc bắt buộc thanh toán bằng ngoại tệ, bao gồm các giao dịch nảy sinh khi một Doanh nghiệp:

(a) Mua hoặc bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà giá cả được xác định bằng ngoại tệ;

(b) Vay hoặc cho vay các khoản tiền mà số phải trả hoặc phải thu được xác định bằng ngoại tệ;

(c) Trở thành một đối tác (một bên) của một hợp đồng ngoại hối chưa được thực hiện;

(d) Mua hoặc thanh lý các của cải/tài sản; phát sinh hoặc thanh toán các khoản nợ xác định bằng ngoại tệ;

(e) sử dụng một loại tiền tệ này để mua, bán hoặc đổi lấy một loại tiền tệ khác.

08. Một giao dịch bằng ngoại tệ phải được hạch toán và ghi nhận ban đầu theo đơn vị tiền tệ kế toán bằng việc áp dụng tỷ giá hối đoái giữa đơn vị tiền tệ kế toán và ngoại tệ tại ngày giao dịch.

09. Tỷ giá hối đoái tại ngày giao dịch được coi là tỷ giá giao ngay. công ty có thể dùng tỷ giá xấp xỉ với tỷ giá hối đoái thực tế tại ngày giao dịch. Ví dụ tỷ giá trung bình tuần hoặc tháng có khả năng được dùng cho tất cả các giao dịch phát sinh của mỗi loại ngoại tệ trong tuần, tháng đó. Nếu tỷ giá hối đoái giao động mạnh thì Doanh nghiệp không được dùng tỷ giá trung bình cho việc kế toán của tuần hoặc tháng kế toán đó.

Báo cáo tại ngày lập Bảng cân đối kế toán

10. Tại ngày lập Bảng cân đối kế toán:

(a) Các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ phải được báo cáo theo tỷ giá hối đoái cuối kỳ;

Mọi Người Xem :   TOP 8 giày thể thao tiếng anh là gì HAY và MỚI NHẤT - Kiến Thức Về Ngành Tự Động Hóa

(b) Các khoản mục phi tiền tệ có gốc ngoại tệ phải được báo cáo theo tỷ giá hối đoái tại ngày giao dịch;

(c) Các khoản mục phi tiền tệ được xác định theo giá trị hợp lý bằng ngoại tệ phải được báo cáo theo tỷ giá hối đoái tại ngày xác định giá trị hợp lý.

11. tổng giá trị ghi sổ của một khoản mục được xác định phù hợp với các chuẩn mực kế toán có liên quan. Ví dụ hàng tồn kho được xác định theo giá gốc, của cải/tài sản cố định được xác định theo nguyên giá cho dù giá trị ghi sổ được xác định trên cơ sở giá gốc, nguyên giá hay giá trị hợp lý, giá trị ghi sổ được xác định của các khoản mục có gốc ngoại tệ sau đó sẽ được báo cáo theo đơn vị tiền tệ kế toán phù hợp với quy định của chuẩn mực này.

Ghi nhận chênh lệch tỷ giá hối đoái

12. Chênh lệch tỷ giá hối đoái nảy sinh khi thanh toán các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ hoặc trong việc báo cáo các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ của một Doanh nghiệp theo các tỷ giá hối đoái khác với tỷ giá hối đoái đã được ghi nhận ban đầu, hoặc đã được báo cáo trong báo cáo tài chính trước, được xử lý như sau:

(a) Trong giai đoạn đầu tư xây dựng để hình thành của cải/tài sản cố định của Doanh nghiệp mới thành lập, chênh lệch tỷ giá hối đoái nảy sinh khi thanh toán các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ để thực hiện đầu tư xây dựng và chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh khi đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ cuối năm tài chính được phản ánh luỹ kế, riêng biệt trên Bảng Cân đối kế toán. Khi TSCĐ hoàn thành đầu tư xây dựng đưa vào sử dụng thì chênh lệch tỷ giá hối đoái nảy sinh trong giai đoạn đầu tư xây dựng được phân bổ dần vào thu nhập hoặc chi phí sản xuất, buôn bán trong thời gian tối đa là 5 năm.

(b) Trong giai đoạn sản xuất, kinh doanh, kể cả việc đầu tư xây dựng để hình thành của cải/tài sản cố định của Doanh nghiệp đang hoạt động, chênh lệch tỷ giá hối đoái nảy sinh khi thanh toán các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ và đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ cuối năm tài chính sẽ được ghi nhận là mức thu nhập, hoặc chi phí trong năm tài chính, ngoại trừ chênh lệch tỷ giá hối đoái quy định trong đoạn 12c, 14, 16.

(c) Đối với công ty dùng công cụ tài chính để dự phòng rủi ro hối đoái thì các khoản vay, nợ phải trả có gốc ngoại tệ được hạch toán theo tỷ giá thực tế tại thời điểm phát sinh. công ty không được đánh giá lại các khoản vay, nợ phải trả có gốc ngoại tệ đã sử dụng công cụ tài chính để dự phòng rủi ro hối đoái.

13. Chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh được ghi nhận khi có sự thay đổi ngay tỷ giá hối đoái giữa ngày giao dịch và ngày thanh toán của mọi khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ. Khi giao dịch sinh ra và được thanh toán trong cùng kỳ kế toán, các khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái được hạch toán trong kỳ đó. Nếu giao dịch được thanh toán ở các kỳ kế toán sau, chênh lệch tỷ giá hối đoái được tính theo sự thay đổi của tỷ giá hối đoái trong từng kỳ cho đến kỳ giao dịch đó được thanh toán.

Đầu tư thuần vào cơ sở ở nước ngoài

14. Chênh lệch tỷ giá hối đoái nảy sinh từ các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ về bản chất thuộc phần vốn đầu tư thuần của công ty báo cáo tại một cơ sở ở nước ngoài thì được phân loại như là vốn chủ sở hữu trong báo cáo tài chính của Doanh nghiệp cho đến khi thanh lý khoản đầu tư này. Tại thời điểm đó các khoản chênh lêch tỷ giá hối đoái này sẽ được hạch toán là thu nhập hoặc chi phí phù hợp với đoạn 30.

15. Một công ty có thể có các khoản mục tiền tệ phải thu hoặc phải trả đối với cơ sở ở nước ngoài. Một khoản mục mà việc thanh toán không được xác định hoặc có khả năng không xảy ra trong một khoảng thời gian có khả năng đoán trước trong tương lai, về bản chất, làm tăng lên hoặc bớt khoản đầu tư thuần của Doanh nghiệp ở cơ sở nước ngoài đó. Các khoản mục tiền tệ này có khả năng bao gồm các khoản phải thu dài hạn hoặc các khoản vay nhưng không bao gồm các khoản phải thu thương mại và các khoản phải trả thương mại.

16. Các khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái nảy sinh từ các khoản nợ phải trả có gốc ngoại tệ được hạch toán như một khoản Giảm rủi ro cho khoản đầu tư thuần của Doanh nghiệp tại một cơ sở ở nước ngoài sẽ được phân loại như là vốn chủ sở hữu trên báo cáo tài chính của công ty cho đến khi thanh lý khoản đầu tư thuần. Tại thời điểm đó các khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái này sẽ được hạch toán là mức thu nhập hoặc chi phí phù hợp với đoạn 30.

BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG Ở NƯỚC NGOÀI

Phân loại vận hành ở nước ngoài

17. Phương pháp chuyển đổi các báo cáo tài chính của hoạt động ở nước ngoài tùy theo mức độ phụ thuộc về tài chính và hoạt động với Doanh nghiệp báo cáo. Với mục đích này, các vận hành ở nước ngoài được chia thành hai loại: “vận hành ở nước ngoài không thể tách rời với vận hành của Doanh nghiệp báo cáo” và “cơ sở ở nước ngoài”.

18. hoạt động ở nước ngoài không thể tách rời với hoạt động của Doanh nghiệp báo cáo thực hiện vận hành buôn bán của mình như một bộ phận của Doanh nghiệp báo cáo. Ví dụ, hoạt động bán hàng nhập khẩu từ Doanh nghiệp ở nước ngoài và chuyển số tiền thu được về Doanh nghiệp báo cáo. Trong trường hợp này, sự thay đổi ngay tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền báo cáo và đồng tiền của nước có hoạt động ở nước ngoài, sẽ tác động trực tiếp đến lưu chuyển tiền tệ từ vận hành của Doanh nghiệp báo cáo. do đó, sự thay đổi ngay tỷ giá hối đoái gây ảnh hưởng từng khoản mục tiền tệ của vận hành ở nước ngoài hơn là khoản đầu tư thuần của công ty báo cáo trong vận hành đó.

Mọi Người Xem :   Chỉ số ALT là gì? Cao bao nhiêu thì nguy hiểm cho sức khỏe lá gan?

19. Cơ sở ở nước ngoài là đơn vị vận hành kinh doanh độc lập, có tư cách pháp nhân ở nước sở tại, sử dụng đồng tiền của nước sở tại làm đơn vị tiền tệ kế toán. Cơ sở này có khả năng cũng tham gia vào các giao dịch bằng ngoại tệ, bao gồm cả giao dịch bằng đồng tiền báo cáo. Khi có một sự thay đổi ngay tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền báo cáo và đồng tiền của nước sở tại, chỉ có tác động nhỏ hoặc không tác động trực tiếp đến hiện nay và tương lai của các luồng tiền từ các hoạt động của cơ sở ở nước ngoài cũng như Doanh nghiệp báo cáo. thay đổi ngay tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến khoản đầu tư ròng của Doanh nghiệp báo cáo hơn là đối với các khoản mục tiền tệ và phi tiền tệ riêng lẻ của cơ sở ở nước ngoài.

20. Những đặc điểm nhận biết một cơ sở ở nước ngoài:

(a) Các vận hành ở nước ngoài được tiến hành với mức độ độc lập cao với công ty báo cáo.

(b) Các giao dịch với Doanh nghiệp báo cáo chiếm tỷ trọng không lớn trong các vận hành ở nước ngoài.

(c) Các vận hành ở nước ngoài tự tài trợ là chính hoặc từ các khoản vay tại nước ngoài hơn là từ công ty báo cáo.

(d) Các chi phí về lao động, nguyên vật liệu và các cơ quan cấu thành khác của sản phẩm hoặc sản phẩm của hoạt động ở nước ngoài được chi trả và thanh toán chủ yếu bằng đồng tiền của nước sở tại hơn là đơn vị tiền tệ của Doanh nghiệp báo cáo.

(đ) Doanh thu của hoạt động ở nước ngoài chủ yếu bằng các đơn vị tiền tệ khác với đơn vị tiền tệ của công ty báo cáo;

(e) Lưu chuyển tiền tệ của công ty báo cáo là biệt lập với các hoạt động hàng ngày của vận hành ở nước ngoài, không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các vận hành của hoạt động ở nước ngoài.

Phân loại hợp lý từng hoạt động ở nước ngoài có thể dựa trên các đặc điểm phân biệt nêu trên. Trong một vài trường hợp, phân loại một vận hành ở nước ngoài là một cơ sở nước ngoài hay là một vận hành ở nước ngoài không thể tách rời với công ty báo cáo có khả năng không rõ ràng, Vì vậy cần phải đánh giá để phân loại hợp lý.

vận hành ở nước ngoài không thể tách rời với vận hành của Doanh nghiệp báo cáo

21. Các báo cáo tài chính của hoạt động ở nước ngoài không thể tách rời với hoạt động của Doanh nghiệp báo cáo sẽ được chuyển đổi theo các quy định từ đoạn 7 đến đoạn 16 như là vận hành của chính Doanh nghiệp báo cáo.

22. Từng khoản mục trong báo cáo tài chính của hoạt động ở nước ngoài được chuyển đổi như giao dịch của hoạt động ở nước ngoài được thực hiệc bởi công ty báo cáo. Nguyên giá và khấu hao của cải/tài sản cố định được quy đổi theo tỷ giá tại ngày mua tài sản. Nếu của cải/tài sản tính theo tổng giá trị hợp lý thì dùng tỷ giá tại ngày xác định giá trị hợp lý. Trị giá hàng tồn kho được quy đổi theo tỷ giá tại thời điểm xác định trị giá hàng tồn kho. Khoản có khả năng thu hồi hoặc tổng giá trị có thể thực hiện của một của cải/tài sản được chuyển đổi theo tỷ giá thực tế tại thời điểm các khoản này được xác định.

23. Trên thực tế, một tỷ giá xấp xỉ với tỷ giá thực tế tại ngày diễn ra vận hành giao dịch thường được dùng. Ví dụ tỷ giá trung bình trong tuần hoặc tháng có khả năng được dùng cho tất cả các giao dịch  bằng ngoại tệ diễn ra trong thời kỳ đó. tuy nhiên, nếu tỷ giá hối đoái dao động mạnh, việc sử dụng tỷ giá trung bình cho một giai đoạn là không thể áp dụng được.

Cơ sở ở nước ngoài

24. Khi chuyển đổi báo cáo tài chính của cơ sở ở nước ngoài để tổng hợp vào báo cáo tài chính của Doanh nghiệp báo cáo phải tuân theo những quy định sau:

a) tài sản và nợ phải trả (cả khoản mục tiền tệ và phi tiền tệ) của cơ sở ở nước ngoài được quy đổi theo tỷ giá cuối kỳ;

b) Các khoản mục về doanh thu, mức lương khác và chi phí của cơ sở ở nước ngoài được quy đổi theo tỷ giá tại ngày giao dịch. Trường hợp báo cáo của cơ sở ở nước ngoài được báo cáo bằng đồng tiền của một nền kinh tế siêu lạm phát thì doanh thu, mức thu nhập khác và chi phí được quy đổi theo tỷ giá cuối kỳ;

c) Tất cả các khoản chênh lệch hối đoái khi chuyển đổi báo cáo tài chính của cơ sở ở nước ngoài để tổng hợp vào báo cáo tài chính của Doanh nghiệp báo cáo phải được phân loại như là vốn chủ sở hữu của công ty báo cáo cho đến khi thanh lý khoản đầu tư thuần đó.

25. Trường hợp tỷ giá trung bình xấp xỉ tỷ giá thực tế thì tỷ giá trung bình được dùng để chuyển đổi các khoản mục doanh thu, thu nhập khác và chi phí của cơ sở ở nước ngoài.

26. Các trường hợp nảy sinh chênh lệch tỷ giá hối đoái khi chuyển đổi báo cáo tài chính của cơ sở ở nước ngoài:

a) Chuyển đổi các khoản mục doanh thu, mức lương khác và chi phí theo tỷ giá hối đoái tại ngày giao dịch, các của cải/tài sản và các khoản nợ phải trả theo tỷ giá hối đoái cuối kỳ;

b) Chuyển đổi khoản đầu tư thuần đầu kỳ tại cơ sở ở nước ngoài theo một tỷ giá hối đoái khác với tỷ giá hối đoái đã được phản ánh kỳ trước;

c) Các khoản thay đổi khác liên quan đến vốn chủ sở hữu tại cơ sở nước ngoài.

Những khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái này không được ghi nhận là thu nhập hoặc chi phí trong kỳ. Những khoản thay đổi ngay tỷ giá này thường có ít tác động hoặc tác động không trực tiếp đến các luồng tiền từ vận hành Hiện tại và trong tương lai của cơ sở ở nước ngoài tương đương của công ty báo cáo. Khi một cơ sở ở nước ngoài được hợp nhất nhưng không phải là sở hữu toàn bộ thì khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái lũy kế nảy sinh từ việc chuyển đổi và gắn liền với phần đầu tư vào cơ sở ở nước ngoài của cổ đông thiểu số phải được phân bổ và được báo cáo như là một phần sở hữu của cổ đông thiểu số tại cơ sở ở nước ngoài trong Bảng cân đối kế toán hợp nhất.

Mọi Người Xem :   Chứng khoán ảo là gì? Ưu và nhược điểm khi đầu tư - finder Vietnam

27. Mọi tổng giá trị lợi thế thương mại phát sinh khi mua cơ sở ở nước ngoài và mọi sự điều chỉnh tổng giá trị hợp lý về tổng giá trị ghi sổ của tài sản và nợ phải trả nảy sinh trong quá trình mua cơ sở ở nước ngoài đều đặn được xử lý như là:

a) của cải/tài sản và nợ phải trả của cơ sở ở nước ngoài được chuyển đổi theo tỷ giá cuối kỳ như quy định tại đoạn 23.

b) của cải/tài sản và nợ phải trả của Doanh nghiệp báo cáo đã được thể hiện bằng ngoại tệ báo cáo, hoặc là khoản mục phi tiền tệ, được báo cáo theo tỷ giá tại ngày giao dịch như quy định tại đoạn 10(b).

28. Việc hợp nhất báo cáo tài chính của cơ sở ở nước ngoài vào báo cáo tài chính của Doanh nghiệp báo cáo phải tuân theo các hồ sơ hợp nhất thông thường, như loại bỏ các số dư trong tập đoàn và các nghiệp vụ với các Doanh nghiệp trong tập đoàn của một công ty con (Xem Chuẩn mực kế toán “Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản vốn góp vào các Doanh nghiệp con” và Chuẩn mực kế toán “Thông tin tài chính về các khoản vốn góp liên doanh”). mặc khác, một khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong một khoản mục tiền tệ trong tập đoàn dù là ngắn hạn hay dài hạn cũng không thể loại trừ vào khoản tương ứng trong số dư khác trong tập đoàn bởi vì khoản mục tiền tệ này thể hiện một sự cam kết để chuyển đổi một ngoại tệ thành một ngoại tệ khác và đưa đến lãi hoặc lỗ cho công ty báo cáo do thay đổi ngay tỷ giá hối đoái. do đó, trong báo cáo tài chính hợp nhất của công ty báo cáo, chênh lệch tỷ giá hối đoái được hạch toán là thu nhập hoặc chi phí, hoặc nếu nó phát sinh từ các trường hợp như trình bày ở đoạn 14 và 16 thì sẽ được phân loại như là vốn chủ sở hữu cho đến khi thanh lý khoản đầu tư thuần.

29. Ngày lập báo cáo tài chính của cơ sở ở nước ngoài phải phù hợp với ngày lập báo cáo tài chính của Doanh nghiệp báo cáo. Trường hợp không thể lập được báo cáo tài chính cùng ngày thì cho phép tổng hợp báo cáo tài chính có ngày khác biệt trong vòng 3 tháng. Trường hợp này, tài sản và nợ phải trả của cơ sở ở nước ngoài được chuyển đổi theo tỷ giá tại ngày lập Bảng cân đối kế toán của cơ sở ở nước ngoài. Khi có sự thay đổi lớn về tỷ giá hối đoái giữa ngày lập báo cáo tài chính của cơ sở ở nước ngoài so với ngày lập báo cáo tài chính của Doanh nghiệp báo cáo thì phải có sự điều chỉnh thích hợp từ ngày đó cho đến ngày lập Bảng cân đối kế toán của Doanh nghiệp báo cáo theo Chuẩn mực kế toán “Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản vốn góp vào các Doanh nghiệp con” và Chuẩn mực kế toán “Thông tin tài chính về các khoản vốn góp liên doanh”.

Thanh lý cơ sở ở nước ngoài

30. Khi thanh lý cơ sở ở nước ngoài, khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái lũy kế đã bị hoãn lại (theo quy định tại đoạn 24.c) và liên quan đến cơ sở ở nước ngoài đó sẽ được ghi nhận là mức lương hoặc chi phí cùng với kỳ mà lãi hoặc lỗ về việc thanh lý được ghi nhận.

31. Một công ty có thể thanh lý khoản đầu tư tại một cơ sở ở nước ngoài thông qua bán, phát mại, thanh toán lại vốn cổ phần hoặc từ bỏ tất cả hoặc một phần vốn ở cơ sở đó. Thanh toán cổ tức là một cách thức thanh lý chỉ khi nó là một sự thu hồi khoản đầu tư. Trường hợp thanh lý từng phần, chỉ có chênh lệch tỷ giá hối đoái lũy kế liên quan đến phần vốn sở hữu được tính vào lãi hoặc lỗ. Một sự ghi hạn chế tổng giá trị kế toán của cơ sở nước ngoài không tạo nên thanh lý từng phần. Trường hợp này, không có phần lãi hoặc lỗ nào về chênh lệch tỷ giá hối đoái hoãn lại được ghi nhận vào thời điểm ghi Giảm.

Sự thay đổi trong việc phân loại vận hành ở nước ngoài

32. Khi có sự thay đổi trong việc phân loại hoạt động ở nước ngoài, các quy định chuyển đổi báo cáo tài chính của hoạt động ở nước ngoài được áp dụng kể từ ngày thay đổi ngay phân loại đó.

33. Việc phân loại hoạt động ở nước ngoài có thể thay đổi ngay khi có sự thay đổi ngay mức độ phụ thuộc về tài chính và vận hành với Doanh nghiệp báo cáo. Khi vận hành ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời với hoạt động của công ty báo cáo được phân loại lại như một cơ sở ở nước ngoài thì chênh lệch tỷ giá hối đoái nảy sinh từ việc chuyển đổi của cải/tài sản phi tiền tệ được phân loại như là vốn chủ sở hữu tại ngày phân loại lại. Khi một cơ sở ở nước ngoài được phân loại lại như một hoạt động ở nước ngoài không thể tách rời với hoạt động của công ty báo cáo, tổng giá trị đã được chuyển đổi của những khoản mục tài sản phi tiền tệ tại ngày chuyển đổi được coi như là giá gốc của chúng trong kỳ thay đổi và các kỳ tiếp theo. Chênh lệch tỷ giá hối đoái hoãn lại không được ghi nhận là mức lương hoặc chi phí cho đến khi thanh lý vận hành.

Trình bày báo cáo tài chính

34. công ty phải trình bày trong báo cáo tài chính:

a) Khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái đã được ghi nhận trong lãi hoặc lỗ thuần trong kỳ;

b) Chênh lệch tỷ giá hối đoái thuần được phân loại như vốn chủ sở hữu (theo đoạn 12a, đoạn14) và phản ánh là một phần riêng biệt của vốn chủ sở hữu và phải trình bày cả khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái đầu kỳ và cuối kỳ;

35. Khi đơn vị tiền tệ báo cáo khác với đồng tiền của nước sở tại mà Doanh nghiệp đang vận hành, Doanh nghiệp phải trình bày rõ lý do, kể cả khi thay đổi ngay đơn vị tiền tệ báo cáo.

36. Khi có sự thay đổi ngay trong việc phân loại vận hành ở nước ngoài có tác động lớn đến Doanh nghiệp báo cáo thì công ty phải trình bày:

a) Bản chất của sự thay đổi trong việc phân loại;

b) Lý do thay đổi ngay;

c) ảnh hưởng của sự thay đổi trong việc phân loại đến  vốn chủ sở hữu;

d) ảnh hưởng đến lãi, lỗ thuần của kỳ trước có ảnh hưởng trong việc phân loại diễn ra ở đầu kỳ gần nhất.

37. công ty phải trình bày phương pháp được lựa chọn (theo quy định tại đoạn 27) để chuyển đổi các điều chỉnh về tổng giá trị lợi thế thương mại và tổng giá trị hợp lý phát sinh trong việc mua cơ sở ở nước ngoài.



Các câu hỏi về khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ là gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ là gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé

Related Posts

About The Author

Add Comment